lion king
23-12-2010, 11:26 AM
Nam Thiên Tứ đại thần khí
Trước hết là vài dòng nhìn lại lịch sử Tổ quốc xem như tiền đề. Theo lời kể của tiền nhân, nước Việt ta có Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí (bốn thần khí của trời Nam) hay là Nam Thiên Tứ Bảo Khí (bốn bảo khí trời Nam) vốn được hai thánh tăng Minh Không (còn gọi là Không Lộ) và Từ Đạo Hạnh đúc ra, làm phép, để bảo vệ đất Việt khỏi bị Trung Hoa xâm lăng. Bài viết sau đây tham khảo tài liệu Linh khí Việt Nam của Tiêu Diêu Tử giới thiệu với bạn đọc về câu chuyện Tứ đại khí của dân tộc ta.
Ngài Tăng Giả Nan Đà truyền Phật pháp vào đất Việt nhằm lúc Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm Kỷ Hợi (39). Chi phái thứ nhì được truyền từ ngài Bô Đề Đạt Ma, rồi đến Huệ Khả, Tăng Sán, Lưu Chi, Pháp Hiền, rồi đến Định Không là tám đời.
Ngài Định Không thấy người Việt bị cai trị gần 800 năm, điêu linh vô hạn, ý thức quốc gia, tư tưởng độc lập chẳng còn mấy người chú ý đến nữa. Quan lại Trung Quốc không mấy ai có đức, qua cai trị thì cứ đua nhau vơ vét. Nạn bị đồng hóa sắp đến. Ngài muốn làm một cái gì đó để gây dựng lại tinh thần quốc gia. Ngài đi khắp đất Việt và tìm được một ngôi đất phát đế vương rồi chờ thời, xem ai có đức sẽ được ngôi đất ấy và ngài sẽ đem đệ tử theo giúp.
Sau khi tìm kiếm một thời gian thì tìm được một ngôi đất phát đế vương tại làng Đình Bảng. Ngài xây một ngôi chùa gần đất ấy, lại đặt tên đất là Cổ Pháp. Khi ngài Định Không viên tịch thì truyền cho Thông Biện và trối trăn rằng phải giữ gìn thế đất Cổ Pháp trọn vẹn. Khi ngài Thông Biện viên tịch thì truyền cho ngài La Quý An (852 - 936). Ngài La Qúy An thấy nếu chỉ nhận tăng lữ thì làm sao có anh tài cứu nước. Vì vậy ngài phá lệ mà thu tục gia đệ tử. Vì vậy mà sau này mới có nhiều anh tài giúp cuộc khởi binh của Dương Diên Nghệ, Ngô Vương, vua Đinh dẹp loạn, vua Lê đánh Tống và giúp Thái Tổ Lý Công Uẩn lập một triều đại lâu dài …
Đến đời ngài La Quý An, thế Cổ Pháp vượng quá, chiếu sáng lên không, bao nhiêu tinh tú trên thiên hà đều chầu về. Quan nhà Đường xem thiên văn, nhìn rõ thì lo sợ lắm. Từ năm Bính Tý (856) đến năm Bính Tuất (866), quân Nam Chiếu (là tỉnh Vân Nam bên Trung Hoa bây giờ) cứ hay cướp phá An-Nam. Năm Giáp Thân (864) vua Đường Ý Tông, nhân việc quan thiên văn báo cho biết thế đất Cổ Pháp và An-Nam có loạn, sai Cao Biền sang Giao Châu.
Khi đi, vua Đường dặn riêng với Cao Biền đại khái là Trưng thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cơ nghiệp nhà Đông Hán (25 - 220). Rồi đến Bà Triệu, Lý Bôn vv… làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An-Nam quá thịnh, e sau này có biến. Khanh đến đó, trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An-Nam đi và vẽ địa đồ về cho trẫm.
Cao Biền vâng lệnh ra đi. Phải mất hai năm trời Cao Biền mới dẹp được quân Nam Chiếu, giết tướng Nam Chiếu là Đoàn Tú Thiên và người thổ làm hướng đạo là Chu Cổ Đạo. Vua Đường Ý Tông phong cho Cao Biền làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ.
Từ năm Bính Tuất (866) đến năm Ất Mùi (875) Cao Biền sửa sang đất Giao Châu, lại đi trấm yểm các thế đất đế vương và linh địa khắp Giao Châu. Tuy nhiên, có hai nơi Cao Biền yểm không được.
* Nơi thứ nhất là núi Tản Viên. Tương truyền, Cao Biền thấy núi Tản Viên (hay núi Ba Vì) linh quá, muốn trừ đi mà không được, còn bị Thánh Tản Viên vật xém chút mất mạng.
* Còn nơi thứ nhì là làng Cổ Pháp của dãy núi Tiêu Sơn (long mạch của dãy Tiêu Sơn ngưng và kết huyệt tại làng Cổ Pháp).
Cao Biền cho đào 19 cái lỗ chôn bùa ngãi để yểm đất. Ngài La Qúy An biết vậy nên cho người lẻn đào 19 cái lỗ đó lên và trồng 19 cây lê vào.
Nói về Cao Biền, trong thời gian ở Giao Châu, khi trấn yểm, Biền thu tất cả hồn phách, linh khí của nước Nam vào bụng 36 con trâu vàng. Biền đem 36 con trâu vàng đó về chôn ở núi Thái Sơn cùng với con trâu vàng của Hoa Hạ.
Cho mãi đến đời nhà Tống, vua Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa thấy nước ta có chuyện tranh chấp nên sai các tướng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đánh lấy Đại Cồ Việt (quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ là Đại Cồ Việt do vua Đinh Tiên Hoàng đặt).
Triều đình nước ta tôn Lê Hoàn được tôn lên làm vua, đánh trận Chi Lăng, trận Bạch Đằng, chiến thắng quân Tống vẻ vang, từ đó lập ra nhà Tiền Lê.
Sau khi Nam xâm thất bại, Tống Thái Tông sai bảy đạo sĩ lên núi Thái Sơn đào 36 con trâu vàng của ta cùng với con trâu vàng của họ. Bảy đạo sĩ cho đúc 36 cái hộp bằng đồng đen, mỗi hộp nhốt một trâu với chín lá bùa để yểm trâu. Tất cả được đem vào hoàng cung triều Tống để trấn yểm với hy vọng Tống hùng mạnh mà linh khí nước Nam sẽ bị tuyệt.
Riêng thế đất Cổ Pháp, đến đời ngài Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân thì thân phụ của Lý Công Uẩn được ngôi đất ấy. Vì vậy Lý Công Uẩn được ngài Vạn Hạnh giúp sức, lập ra nhà Hậu Lý (1010 - 1225) một trong những triều đại hiển hách nhất nước ta. Nhà Lý có chiến công ba lần đánh Chiêm Thành, năm lần đem quân vượt biên đánh nhà Tống và một lần chống quân Tống xâm lăng.
Khi quân Tống lần nữa lại mang quân sang trả thù, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức là Nguyên Phi Ỷ Lan, mẹ vua Lý Nhân Tông) nghĩ rằng ngồi yên đợi giặc chi bằng tìm giặc mà đánh. Vì vậy Bà ra lệnh cho quan Thái úy (có sách gọi là Đại tư mã) Lý Thường Kiệt tổng chỉ huy; Tôn Đản đem quân đánh Lưỡng Quảng bằng đường bộ, Trung Thành Vương Lý Hoằng Chân và Tín Nghĩa Vương Lý Chiêu Văn coi mặt thủy cùng tiến công, phá tan các đạo quân của Tống tại Hoa Nam vào năm Ất Mão (1075).
Trong khi quân Tống đang rầm rộ xâm lược nước ta thì thái hậu Tống bị trúng tà, lâm bịnh nặng, thuốc thang chữa mãi không khỏi. Vua Tống truyền hịch khắp nơi nói là nếu ai chữa được bệnh cho thái hậu sẽ được trọng thưởng.
Lúc đó hai ngài Minh Không và Từ Đạo Hạnh đang vân du ở Tống, hay tin liền yết kiến Tống Thần Tông xin chữa bệnh cho thái hậu. Hai ngài lập đàn, làm chay, cúng bảy ngày thì tự nhiên thái hậu hết bệnh. Thái hậu mừng quá bắt văn võ bá quan triều Tống gọi hai ngài là Thánh tăng. Hai ngài xin vua Tống cho đầy một túi vải nhỏ đựng đồng đen do đích thân hai ngài chọn để đem về Đại Việt đúc chuông chùa. Vua Tống ưng thuận, sai quan coi kho dẫn hai ngài vào kho chứa đồng phía bên trái. Hai ngài làm bộ chê ỏng chê eo và xin quan coi kho dẫn hai ngài qua kho phía bên phải.
Trước sân kho đồng phía bên phải có một con trâu vàng to lớn như con trâu thật. Quan coi kho nói giỡn là nếu hai ngài muốn thì tặng luôn con trâu vàng đó cho hai ngài. Nhưng hai ngài nói là chỉ xin vua Tống chút ít đồng đen về đúc chuông chứ không xin trâu vàng. Quan coi kho lại càng tin tưởng hơn. Khi vào kho đồng phía bên phải thì đó là cả một sự kinh ngạc. 36 cái hộp đựng 36 con trâu vàng với bùa được đặt trên một cái bệ cao theo hình tiên thiên bát quái. Xung quanh là những tượng hổ, báo, voi, trăn, rắn, gà, vịt, chó, mèo cùng những mô hình sông núi Đại Việt.
Hai ngài làm bộ không thấy, xin quan coi kho ra ngoài một chút cho hai ngài tự do chọn đồng cho vào túi vải nhỏ. Một lúc sau, hai ngài đi ra với túi đồng đen đầy ắp, giã từ quan coi kho rồi đi về Đại Việt.
Đến chiều quan kiểm kho xem xéi lại kho đồng phía bên phải thì thấy trống trơn. Lập tức trình lên vua Tống. Vua Tống biết là chuyện không xong bèn sai quan tổng lĩnh thị vệ Lý Hiến đuổi theo. Khi đuổi đến bờ biển thấy ngài Minh Không quăng nón xuống nước, cái nón lập tức biến thành con rồng chở hai ngài tiến về Nam. Hai ngài về đến Đại Việt lập tức dùng số đồng đen lấy từ hoàng cung Tống đúc thành bốn bảo khí giữ nước. Người đương thời gọi bốn bảo khí đó là Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí.
(Nguồn:cuasotinhoc.vn)
Trước hết là vài dòng nhìn lại lịch sử Tổ quốc xem như tiền đề. Theo lời kể của tiền nhân, nước Việt ta có Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí (bốn thần khí của trời Nam) hay là Nam Thiên Tứ Bảo Khí (bốn bảo khí trời Nam) vốn được hai thánh tăng Minh Không (còn gọi là Không Lộ) và Từ Đạo Hạnh đúc ra, làm phép, để bảo vệ đất Việt khỏi bị Trung Hoa xâm lăng. Bài viết sau đây tham khảo tài liệu Linh khí Việt Nam của Tiêu Diêu Tử giới thiệu với bạn đọc về câu chuyện Tứ đại khí của dân tộc ta.
Ngài Tăng Giả Nan Đà truyền Phật pháp vào đất Việt nhằm lúc Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm Kỷ Hợi (39). Chi phái thứ nhì được truyền từ ngài Bô Đề Đạt Ma, rồi đến Huệ Khả, Tăng Sán, Lưu Chi, Pháp Hiền, rồi đến Định Không là tám đời.
Ngài Định Không thấy người Việt bị cai trị gần 800 năm, điêu linh vô hạn, ý thức quốc gia, tư tưởng độc lập chẳng còn mấy người chú ý đến nữa. Quan lại Trung Quốc không mấy ai có đức, qua cai trị thì cứ đua nhau vơ vét. Nạn bị đồng hóa sắp đến. Ngài muốn làm một cái gì đó để gây dựng lại tinh thần quốc gia. Ngài đi khắp đất Việt và tìm được một ngôi đất phát đế vương rồi chờ thời, xem ai có đức sẽ được ngôi đất ấy và ngài sẽ đem đệ tử theo giúp.
Sau khi tìm kiếm một thời gian thì tìm được một ngôi đất phát đế vương tại làng Đình Bảng. Ngài xây một ngôi chùa gần đất ấy, lại đặt tên đất là Cổ Pháp. Khi ngài Định Không viên tịch thì truyền cho Thông Biện và trối trăn rằng phải giữ gìn thế đất Cổ Pháp trọn vẹn. Khi ngài Thông Biện viên tịch thì truyền cho ngài La Quý An (852 - 936). Ngài La Qúy An thấy nếu chỉ nhận tăng lữ thì làm sao có anh tài cứu nước. Vì vậy ngài phá lệ mà thu tục gia đệ tử. Vì vậy mà sau này mới có nhiều anh tài giúp cuộc khởi binh của Dương Diên Nghệ, Ngô Vương, vua Đinh dẹp loạn, vua Lê đánh Tống và giúp Thái Tổ Lý Công Uẩn lập một triều đại lâu dài …
Đến đời ngài La Quý An, thế Cổ Pháp vượng quá, chiếu sáng lên không, bao nhiêu tinh tú trên thiên hà đều chầu về. Quan nhà Đường xem thiên văn, nhìn rõ thì lo sợ lắm. Từ năm Bính Tý (856) đến năm Bính Tuất (866), quân Nam Chiếu (là tỉnh Vân Nam bên Trung Hoa bây giờ) cứ hay cướp phá An-Nam. Năm Giáp Thân (864) vua Đường Ý Tông, nhân việc quan thiên văn báo cho biết thế đất Cổ Pháp và An-Nam có loạn, sai Cao Biền sang Giao Châu.
Khi đi, vua Đường dặn riêng với Cao Biền đại khái là Trưng thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cơ nghiệp nhà Đông Hán (25 - 220). Rồi đến Bà Triệu, Lý Bôn vv… làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An-Nam quá thịnh, e sau này có biến. Khanh đến đó, trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An-Nam đi và vẽ địa đồ về cho trẫm.
Cao Biền vâng lệnh ra đi. Phải mất hai năm trời Cao Biền mới dẹp được quân Nam Chiếu, giết tướng Nam Chiếu là Đoàn Tú Thiên và người thổ làm hướng đạo là Chu Cổ Đạo. Vua Đường Ý Tông phong cho Cao Biền làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ.
Từ năm Bính Tuất (866) đến năm Ất Mùi (875) Cao Biền sửa sang đất Giao Châu, lại đi trấm yểm các thế đất đế vương và linh địa khắp Giao Châu. Tuy nhiên, có hai nơi Cao Biền yểm không được.
* Nơi thứ nhất là núi Tản Viên. Tương truyền, Cao Biền thấy núi Tản Viên (hay núi Ba Vì) linh quá, muốn trừ đi mà không được, còn bị Thánh Tản Viên vật xém chút mất mạng.
* Còn nơi thứ nhì là làng Cổ Pháp của dãy núi Tiêu Sơn (long mạch của dãy Tiêu Sơn ngưng và kết huyệt tại làng Cổ Pháp).
Cao Biền cho đào 19 cái lỗ chôn bùa ngãi để yểm đất. Ngài La Qúy An biết vậy nên cho người lẻn đào 19 cái lỗ đó lên và trồng 19 cây lê vào.
Nói về Cao Biền, trong thời gian ở Giao Châu, khi trấn yểm, Biền thu tất cả hồn phách, linh khí của nước Nam vào bụng 36 con trâu vàng. Biền đem 36 con trâu vàng đó về chôn ở núi Thái Sơn cùng với con trâu vàng của Hoa Hạ.
Cho mãi đến đời nhà Tống, vua Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa thấy nước ta có chuyện tranh chấp nên sai các tướng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đánh lấy Đại Cồ Việt (quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ là Đại Cồ Việt do vua Đinh Tiên Hoàng đặt).
Triều đình nước ta tôn Lê Hoàn được tôn lên làm vua, đánh trận Chi Lăng, trận Bạch Đằng, chiến thắng quân Tống vẻ vang, từ đó lập ra nhà Tiền Lê.
Sau khi Nam xâm thất bại, Tống Thái Tông sai bảy đạo sĩ lên núi Thái Sơn đào 36 con trâu vàng của ta cùng với con trâu vàng của họ. Bảy đạo sĩ cho đúc 36 cái hộp bằng đồng đen, mỗi hộp nhốt một trâu với chín lá bùa để yểm trâu. Tất cả được đem vào hoàng cung triều Tống để trấn yểm với hy vọng Tống hùng mạnh mà linh khí nước Nam sẽ bị tuyệt.
Riêng thế đất Cổ Pháp, đến đời ngài Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân thì thân phụ của Lý Công Uẩn được ngôi đất ấy. Vì vậy Lý Công Uẩn được ngài Vạn Hạnh giúp sức, lập ra nhà Hậu Lý (1010 - 1225) một trong những triều đại hiển hách nhất nước ta. Nhà Lý có chiến công ba lần đánh Chiêm Thành, năm lần đem quân vượt biên đánh nhà Tống và một lần chống quân Tống xâm lăng.
Khi quân Tống lần nữa lại mang quân sang trả thù, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức là Nguyên Phi Ỷ Lan, mẹ vua Lý Nhân Tông) nghĩ rằng ngồi yên đợi giặc chi bằng tìm giặc mà đánh. Vì vậy Bà ra lệnh cho quan Thái úy (có sách gọi là Đại tư mã) Lý Thường Kiệt tổng chỉ huy; Tôn Đản đem quân đánh Lưỡng Quảng bằng đường bộ, Trung Thành Vương Lý Hoằng Chân và Tín Nghĩa Vương Lý Chiêu Văn coi mặt thủy cùng tiến công, phá tan các đạo quân của Tống tại Hoa Nam vào năm Ất Mão (1075).
Trong khi quân Tống đang rầm rộ xâm lược nước ta thì thái hậu Tống bị trúng tà, lâm bịnh nặng, thuốc thang chữa mãi không khỏi. Vua Tống truyền hịch khắp nơi nói là nếu ai chữa được bệnh cho thái hậu sẽ được trọng thưởng.
Lúc đó hai ngài Minh Không và Từ Đạo Hạnh đang vân du ở Tống, hay tin liền yết kiến Tống Thần Tông xin chữa bệnh cho thái hậu. Hai ngài lập đàn, làm chay, cúng bảy ngày thì tự nhiên thái hậu hết bệnh. Thái hậu mừng quá bắt văn võ bá quan triều Tống gọi hai ngài là Thánh tăng. Hai ngài xin vua Tống cho đầy một túi vải nhỏ đựng đồng đen do đích thân hai ngài chọn để đem về Đại Việt đúc chuông chùa. Vua Tống ưng thuận, sai quan coi kho dẫn hai ngài vào kho chứa đồng phía bên trái. Hai ngài làm bộ chê ỏng chê eo và xin quan coi kho dẫn hai ngài qua kho phía bên phải.
Trước sân kho đồng phía bên phải có một con trâu vàng to lớn như con trâu thật. Quan coi kho nói giỡn là nếu hai ngài muốn thì tặng luôn con trâu vàng đó cho hai ngài. Nhưng hai ngài nói là chỉ xin vua Tống chút ít đồng đen về đúc chuông chứ không xin trâu vàng. Quan coi kho lại càng tin tưởng hơn. Khi vào kho đồng phía bên phải thì đó là cả một sự kinh ngạc. 36 cái hộp đựng 36 con trâu vàng với bùa được đặt trên một cái bệ cao theo hình tiên thiên bát quái. Xung quanh là những tượng hổ, báo, voi, trăn, rắn, gà, vịt, chó, mèo cùng những mô hình sông núi Đại Việt.
Hai ngài làm bộ không thấy, xin quan coi kho ra ngoài một chút cho hai ngài tự do chọn đồng cho vào túi vải nhỏ. Một lúc sau, hai ngài đi ra với túi đồng đen đầy ắp, giã từ quan coi kho rồi đi về Đại Việt.
Đến chiều quan kiểm kho xem xéi lại kho đồng phía bên phải thì thấy trống trơn. Lập tức trình lên vua Tống. Vua Tống biết là chuyện không xong bèn sai quan tổng lĩnh thị vệ Lý Hiến đuổi theo. Khi đuổi đến bờ biển thấy ngài Minh Không quăng nón xuống nước, cái nón lập tức biến thành con rồng chở hai ngài tiến về Nam. Hai ngài về đến Đại Việt lập tức dùng số đồng đen lấy từ hoàng cung Tống đúc thành bốn bảo khí giữ nước. Người đương thời gọi bốn bảo khí đó là Nam Thiên Tứ Đại Thần Khí.
(Nguồn:cuasotinhoc.vn)